SAU TẤM VÁN NGĂN LÀ MỘT GIA ĐÌNH KHÁC
CHƯƠNG 8
3.9 chẳng khác nào giấy báo cấp cứu.
Anh ta thử chuyển hướng.
Đồ ăn giao tận nơi, combo giảm giá, livestream.
Làm hết.
Vô dụng.
Thứ đáng giá nhất của Yến Đình không phải bảng hiệu.
Mà là danh tiếng về nguyên liệu.
Danh tiếng dựa vào kênh hàng.
Kênh hàng nằm trong tay tôi.
Chung Ý cũng đi rồi.
Sau khi Hứa Nghiên không lấy ra được tiền, cô ta đưa con về quê.
Trước khi đi còn mắng anh ta trong điện thoại:
“Anh còn không bằng con chó. Chó ít ra còn biết giữ ổ.”
Hứa Nghiên không đáp.
Anh ta bận thu dọn tàn cuộc.
Đóng cửa hàng, thanh lý thiết bị, bồi thường nhân viên, trả cọc cho chủ nhà.
Trước đây cả giới ẩm thực thành phố gặp anh ta đều gọi “Tổng giám đốc Hứa”.
Bây giờ người gọi anh ta chỉ còn chủ nợ.
Mẹ anh ta gọi điện mắng tôi.
“Ôn Tri Dư, đồ vô ơn…”
Tôi nói: “Dì à, con trai dì nuôi phụ nữ và con riêng bên ngoài suốt bốn năm.”
“Vậy cũng là do cô không có bản lĩnh giữ nó!”
Tôi cúp máy.
Được thôi.
Không giữ được thì không giữ nữa.
Đường đời nhiều như vậy, việc gì phải kẹt mãi trên một con đường.
Một năm sau.
Ông ngoại chuyển năm mươi mốt phần trăm cổ phần công ty sang tên tôi.
Ngày ký, ông cười đến mức lông mày như bay lên.
“Đợi tám năm, cuối cùng cũng về rồi.”
“Ông ngoại…”
“Đừng nói linh tinh. Về là tốt rồi.”
Ông lấy từ ngăn kéo ra một phong thư.
“Bố mẹ con trước khi mất để lại cho con. Ông giữ giúp con hai mươi năm.”
Tôi mở ra.
Một giấy chứng nhận cổ phần.
Một tờ thư.
Là chữ của mẹ tôi.
“Tri Dư, dù con đi xa đến đâu, cửa nhà ông ngoại mãi mãi mở cho con. Con phải nhớ, con xứng đáng với điều tốt nhất.”
Tôi đọc ba lần.
Mắt cay.
Nhưng không rơi nước mắt.
Không phải không muốn khóc.
Mà là tuyến lệ của năm đó đã dùng để khóc cho tám năm lãng phí của chính mình rồi.
Năm ấy, doanh thu công ty tăng gấp đôi.
Ba tỷ tám.
Thị phần trong ngành cung ứng thực phẩm toàn tỉnh lên vị trí số một.
Đối tác bắt đầu gọi tôi là “Tổng giám đốc Ôn”.
Không phải “bà Hứa”.
Không phải “cháu gái ông ấy”.
Mà là Tổng giám đốc Ôn.
Năm năm sau.
Tập đoàn Thực phẩm Ôn thị đạt doanh thu năm tám tỷ sáu.
Có chi nhánh ở hơn ba mươi thành phố trên cả nước.
Năm đó, tôi lên bìa một tạp chí kinh doanh.
Tiêu đề:
“Ôn Tri Dư: từ căn bếp đến thương trường, cô ấy định nghĩa lại ngành thực phẩm.”
Biên tập hỏi tôi:
“Nhiều người nói thành công của chị dựa vào gia tộc. Chị nghĩ sao?”
“Gia tộc cho tôi điểm xuất phát. Còn hướng đi là tôi tự chọn.”
“Những năm qua chị có hối hận điều gì không?”
“Hối hận vì tỉnh ngộ quá muộn.”
Cô ấy không hiểu.
Cũng không cần cô ấy hiểu.
Cũng trong năm đó, tôi gặp một người.
Là đối tác, làm logistics chuỗi lạnh.
Ba mươi tám tuổi, từng ly hôn một lần, không có con.
Lần đầu gặp ở một bữa tiệc ngành.
Anh đứng trong góc uống nước lọc.
Tôi đi tới.
“Không uống rượu thì đến tiệc làm gì?”
Anh nói:
“Nhìn mọi người uống.”
Sau đó anh theo đuổi tôi một năm.
Không tặng hoa, không tặng túi.
Mỗi sáng đều nhắn một tin:
“Hôm nay trời lạnh, mặc thêm áo.”
Ngày mưa thì đến đón tôi tan làm.
Đi công tác về mang đặc sản tiệm lâu năm ở địa phương, loại vài chục tệ thôi.
Có lần tôi tăng ca đến mười một giờ.
Xuống lầu, thấy anh ngủ quên trong xe.
Trong tay vẫn nắm suất ăn khuya mua cho tôi, đã nguội ngắt.
Tôi gõ cửa kính xe.
Anh tỉnh dậy.
“Sao không lên gọi em?”
“Sợ làm phiền em.”
Tối hôm đó, tôi ăn bát cháo nguội, trong lòng chợt nảy ra một ý nghĩ.
Chính là anh ấy.
Không lãng mạn.
Nhưng đáng tin.
Không nói lời hoa mỹ.
Nhưng lần nào cũng làm được.
Ngày kết hôn, chúng tôi không tổ chức lớn.
Chỉ mời ông ngoại và vài người bạn.
Bạn thân làm phù dâu.
Uống say rồi ôm tôi gào lên:
“Ôn Tri Dư, cuối cùng cậu cũng lấy đúng người một lần rồi!”
Tôi đẩy cô ấy ra.
“Được rồi, cậu khóc trôi hết lớp trang điểm của mình rồi.”
Mười năm sau.
Doanh thu năm của Tập đoàn Ôn thị vượt hai mươi tỷ.
Tôi và chồng có một cô con gái.
Sáu tuổi, giống tôi, nói nhiều, tính bướng.
Ông ngoại chín mươi hai tuổi.
Sức khỏe vẫn ổn.
Ngày nào cũng tưới hoa trong sân.
Con gái mỗi tuần đến nhà ông ngoại một lần, quấn lấy ông bắt kể chuyện.
Con bé đi dép lê chạy từ phòng khách ra.
“Mẹ! Mẹ hứa kể chuyện cho con mà!”
“Rồi rồi.”
Tôi bế con bé dựa lên sofa.
“Hôm nay mẹ kể gì nhỉ?”
“Kể công chúa đi mẹ!”
“Được. Ngày xửa ngày xưa, có một nàng công chúa. Cô ấy sống trong một căn nhà rất lớn. Một ngày nọ, cô ấy phát hiện tấm vách ngăn trên một bức tường trong nhà có thể mở ra…”
“Mở ra được á? Không phải đóng đinh chết rồi sao?”
“Không. Có người nói với cô ấy rằng thật ra nó tháo ra được.”
“Vậy công chúa có mở không?”
“Có.”
“Bên trong có gì?”
“Bên trong là một con đường khác. Một con đường tốt hơn.”
Con gái nghiêng đầu nghĩ ngợi.
“Thế con đường cũ thì sao?”
“Không đi nữa.”
“Tại sao?”
“Vì người trên con đường đó không xứng đáng.”
Chồng tôi từ bếp bưng sữa nóng ra.
“Đang kể gì vậy?”
“Chuyện công chúa.”
“Công chúa nào?”
“Một nàng công chúa tỉnh ngộ không quá sớm, nhưng cũng chưa quá muộn.”
Anh cười, ngồi xuống cạnh tôi.
Con gái uống sữa, năm phút sau đã ngủ.
Tôi bế con bé lên lầu.
Đi ngang qua bức tường hành lang, nơi treo một tấm ảnh gia đình.
Ông ngoại ngồi giữa.
Ba người nhà chúng tôi vây quanh ông.
Con gái cười lộ cái răng sún.
Đây mới gọi là nhà.
Tôi đặt con gái lên chiếc giường nhỏ, đắp chăn, tắt đèn.
Ánh trăng lọt qua khe rèm.
Sáng y như những đêm mười năm trước, khi tôi nằm một mình trên chiếc giường lớn.
Nhưng người trên giường đã khác.
Cuộc sống đã khác.
Mọi thứ đều khác.
Tôi khép cửa phòng con gái, quay về phòng ngủ.
Chồng tôi đã ngồi đọc sách.
“Mệt không?”
“Không mệt.”
“Vậy lại đây.”
Tôi tựa vào vai anh.
Mười năm trước, ngày chị Trương rời đi, chị ấy nói một câu.
Câu nói ấy phá vỡ một bức tường.
Cũng phá vỡ sai lầm tám năm của tôi.
Nhưng đồng thời, nó mở ra một con đường.
Một con đường đúng.
Hết.