TÔI KHÔNG CÒN MUỐN TRANH NỮA
CHƯƠNG 10
**12**
Manchester đổ mưa thu rả rích suốt ba ngày.
Điện thoại rung lên. Vừa gõ xong dấu câu cuối cùng của bài báo cáo học thuật.
Màn hình hiện số lạ từ trong nước gọi đến. Vuốt nghe.
Trong sóng điện thoại vượt đại dương truyền đến tiếng “tít tít” dồn dập của máy theo dõi nhịp tim.
Giọng người hộ lý vô cùng gấp gáp: “Cô Giản, ông Giản sắp không qua khỏi rồi. Cô có thể về nhìn mặt lần cuối không?”
Tôi nhìn chằm chằm vào bài báo cáo tiếng Anh trên màn hình. Đầu ngón tay lơ lửng trên bàn phím.
Bấm nút lưu lại.
“Tôi sẽ đặt chuyến bay gần nhất.”
Ba mươi tư giờ sau, đáp chuyến bay về đến Bệnh viện Thành phố số 1.
Trong phòng chăm sóc tích cực sặc sụa mùi thuốc sát trùng đắng ngắt.
Giản Tông Minh chìm trong giường bệnh, gầy xọm đến mức biến dạng. Máy thở kêu lên những tiếng rít đều đặn theo lồng ngực đang phập phồng yếu ớt của ông ta.
Nghe tiếng động, con ngươi đục ngầu của ông ta chầm chậm quay sang. Vẻ xám xịt nơi đáy mắt lóe lên một tia sáng mờ nhạt.
Hốc mắt rỉ ra ánh nước. Những đường gân xanh trên mu bàn tay ông ta run rẩy, cố sức đi tháo mặt nạ dưỡng khí.
Người hộ lý giúp ông ta tháo một bên ra.
“Ninh Ninh…” Giọng nói thều thào khản đặc.
Những ngón tay khô quắt khó nhọc nhấc lên, với về phía vạt áo khoác măng tô của tôi.
“Ba già rồi hồ đồ.” Ông ta thở dốc từng ngụm lớn, nước mắt thấm ướt gối, “Năm xưa không nên tin con sói mắt trắng đó. Thời gian không còn nhiều nữa, con có thể tha thứ…”
Tôi nhìn bàn tay lơ lửng giữa không trung của ông ta. Không né tránh, cũng không nắm lấy.
Lùi về sau nửa bước, đứng ở cuối giường.
“Tiết kiệm chút sức lực đi.” Giọng tôi đều đều bình thản.
Những uất ức của mười năm đó đã sớm đóng thành vảy cứng từ lâu rồi.
Bàn tay Giản Tông Minh rũ rượi rơi phịch xuống ga giường. Ánh mắt cũng tối sầm lại.
Tôi quay người bước ra khỏi phòng bệnh.
Ánh sáng ngoài hành lang trắng bệch.
Người hộ lý cầm biên lai đóng viện phí đi theo sau, đứng cạnh đè thấp giọng lầm bầm:
“Tô Đường chạy mất tăm mất tích từ lâu rồi. Năm đó thân bại danh liệt bị phong sát, lúc ông già này đổ bệnh, đến một cuộc điện thoại cũng chẳng thèm gọi.”
Tôi tựa lưng vào ghế không đáp lời.
Sáu giờ lẻ bảy phút chiều.
Trong phòng bệnh réo lên một hồi chuông dài báo động. Biểu đồ điện tâm đồ chạy thành một đường thẳng tắp.
Giản Tông Minh trút hơi thở cuối cùng.
Một giờ sau, tại phòng họp cuối hành lang.
Mấy người họ hàng xa của nhà họ Giản chen chúc đầy dãy bàn dài.
“Dựa theo di chúc lúc sinh thời của ông Giản Tông Minh,” Luật sư đẩy gọng kính, “Căn nhà cũ và số tiền tiết kiệm ít ỏi còn lại mang tên ông, sẽ để lại toàn bộ cho cô Giản Ninh.”
Cả phòng họp nổ tung.
“Dựa vào cái gì!” Ông chú họ chồm dậy, chỉ thẳng tay vào mặt tôi, “Một đứa người ngoài, lấy tư cách gì mà chiếm đoạt tiền của nhà lão Giản!”
“Nuôi lớn chừng này là cạn tình cạn nghĩa rồi, còn vác mặt về tranh giành tài sản tuyệt tự à?”
Bà cô bên cạnh cũng hùa theo phụ họa, mấy khuôn mặt ép sát nhau ở phía đối diện bàn họp.
Thật ồn ào.
Tôi đi vòng qua cánh tay đang chỉ trỏ của ông chú họ, bước đến trước bàn luật sư. Rút lấy tờ giấy xác nhận di chúc vừa mới in ra.
Cầm chiếc bút bi mực đen. Lật đến trang cuối cùng.
Đầu bút ký xoành xoạch trên mặt giấy.
“Cô Giản Ninh?” Luật sư sững sờ.
Tài liệu đã ký xong được đẩy lại trước mặt ông ta.
“Di sản của nhà họ Giản, tôi tự nguyện từ bỏ toàn bộ. Ủy quyền cho ông quy đổi thành tiền mặt, quyên góp toàn bộ cho Hội Chữ thập đỏ.”
Tiếng chửi bới trong phòng bỗng chốc im bặt.
Ông chú họ trừng mắt há hốc mồm, đôi môi run rẩy không nặn ra được một chữ nào.
Tôi quay người đi về phía cửa lớn.
Nét bút này hạ xuống, nhân quả với nhà họ Giản đã hoàn toàn chấm dứt sòng phẳng.
Bậc thềm bệnh viện đã tích tụ đầy lá khô. Gió cuối thu mang theo hơi lạnh buốt giá.
Điện thoại trong túi áo rung lên.
Email chính thức từ Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Anh Quốc. Visa làm việc dài hạn đã được thông qua.
Khóa màn hình, nhét điện thoại trở lại túi áo.
Quấn chặt lại áo khoác gió. Tôi ngửa mặt lên trời hít một hơi không khí se lạnh.
Ba ngày sau. Nghĩa trang vùng ngoại ô phía Tây.
Mưa bụi bay bay lất phất. Tôi mặc chiếc áo khoác đen, che ô đen, đứng ở vòng ngoài cùng để quan sát lễ tang.
Từng lớp đất đắp lên hộp tro cốt. Nhạc tang ngừng vang, người nhà tản đi.
Tôi men theo bậc thang đá xanh đi xuống dưới.
Một đôi giày da thủ công lấm lem bùn đất đang dừng ở góc ngoặt của cầu thang.
Nâng vành ô lên.
Hoắc Nghiên Đình đang đứng trong làn mưa lạnh giá.
Ba năm không gặp. Anh ta gầy rộc đến biến dạng, sống lưng hơi còng xuống. Bộ vest cao cấp bị nước mưa tưới ướt sũng, dính sát vào chiếc áo sơ mi loang lổ vết nước.
Anh ta nhìn tôi chằm chằm.
Đáy mắt vằn vện tơ máu đỏ ngầu. Đôi môi run rẩy không khống chế nổi.
Không bước lên nửa bước nào.
Tôi đứng cách một màn mưa nhìn anh ta. Trong lòng không nổi lên chút gợn sóng nào. Chỉ có sự bình thản như đang nhìn một kẻ qua đường đang chắn lối.
Bước chân không hề dừng lại.
Lướt qua vai anh ta. Khoảnh khắc sượt qua nhau, theo thói quen lịch sự tôi hơi gật đầu với anh ta.
Giống như đối phó với một người xa lạ vừa tình cờ lướt qua.
Sau đó mắt nhìn thẳng đi thẳng về phía trước.
Phía sau truyền đến tiếng nức nở đang cố hết sức kìm nén. Rồi bị tiếng mưa rơi nhấn chìm.
Tôi không quay đầu lại.
Cầm chiếc ô đen đi ra khỏi cổng nghĩa trang.
Đường cái phía xa vươn dài về phía chân trời xám xịt, mở ra vô vàn khả năng phía trước.
Không cần phải lấy lòng ai nữa, cũng không còn mong cầu bất kỳ sự dựa dẫm nào.
(Hết)