Công Bằng Chỉ Là Một Vai Diễn

Chương 3



9

Cuộc cãi vã đó cuối cùng kết thúc bằng cảnh tôi đập cửa bỏ vào phòng.

Tàu cao tốc lao vút trên đường ray, trong điện thoại tôi còn nằm yên hai tin nhắn mẹ gửi:

Một là trách tôi “không hiểu chuyện, đúng là thứ vô ơn”,

một là nhắc tôi tháng sau đừng quên chuyển tiền sinh hoạt đúng hạn.

Tôi không trả lời, kéo luôn khung hội thoại vào danh sách chặn.

Việc đầu tiên khi về lại Bắc Kinh, tôi không quay về phòng trọ, mà đến thẳng trung tâm thương mại cao cấp giữa phố.

Trước đây mỗi lần đi ngang qua cửa kính ấy, nhìn chiếc áo khoác dạ lạc đà bên trong, tôi luôn nghĩ:

“Mẹ còn thích làm đẹp, mình nên để dành tiền cho mẹ.”

“Em gái còn làm nail, đừng để nó túng thiếu.”

Vì thế tôi chưa từng nỡ tiêu thêm một xu cho bản thân.

Lần này, tôi bước vào quầy hàng, chỉ tay nói với nhân viên:

“Lấy giúp tôi cái áo màu lạc đà kia, cái tôi đã nhìn suốt nửa năm qua.”

Cảm giác lớp len cashmere mềm mại áp sát làn da, hơi ấm lan dần vào tận đáy lòng, cả những tủi thân bị đè nén bỗng nhẹ đi ít nhiều.

Nhân viên khen tôi mặc hợp, tôi không ngần ngại, rút thẻ quẹt luôn.

Chiếc áo giá 48.000 tệ – trước kia có thể khiến tôi day dứt cả nửa tháng. Nhưng hôm đó, tôi chỉ thấy nhẹ nhõm.

Tiền tôi tự tay kiếm ra, tại sao lại không được tiêu cho chính mình trước?

Rời khỏi trung tâm thương mại, tôi dừng lại một chút, mua hai hộp dâu tây nhập khẩu tươi rói.

Tôi không lang thang lâu, xách áo khoác và dâu về thẳng phòng trọ.

Tiểu Vân – bạn thân của tôi – thò đầu ra, còn đang gặm kẹo mút:

“Ơ kìa, đại tiểu thư khải hoàn trở về? Cái áo nhìn thôi đã thấy đắt tiền rồi, còn có dâu nữa? Này, chẳng phải mày nói bà bị dị ứng sao?”

Tôi vừa thay giày vừa đặt mọi thứ lên sofa, bỗng dưng mắt đỏ hoe.

Bao nhiêu cảm xúc kìm nén suốt quãng đường, vừa nhìn thấy người quen, tôi không gồng nổi nữa.

Tiểu Vân càng nghe càng tức, nắm chặt tay mắng luôn:

“Cái kiểu thiên vị này là sao chứ! Dị ứng cái quái gì, rõ ràng là xem bà như đứa ngốc mà lừa!”

Cô ấy nhìn hộp dâu trong tay tôi, thở dài, giọng dịu lại:

“Nếu mày thật sự muốn ăn thì cứ ăn đi. Đừng sợ, có tao ở đây mà. Nếu có gì không ổn, tao đưa mày đi viện liền, mình kiểm tra thử phản ứng dị ứng, xem rốt cuộc ai mới là người nói dối.”

Tôi nhìn những trái dâu chín mọng trong hộp, trong lòng như có một con thỏ nhảy loạn – bồn chồn không yên.

Một phần trong tôi… thật sự mong là mình dị ứng thật.

Ít nhất như vậy, sự thiên vị của mẹ còn có thể bọc trong vỏ bọc “vì muốn tốt cho tôi”, tôi vẫn có thể tự dối lòng mà tin – mẹ không phải không yêu tôi, chỉ là cách yêu sai lệch.

Nhưng mặt khác, tôi lại sợ – sợ mình ăn vào mà chẳng sao cả.

Nếu vậy… tức là lời nói dối ấy đã kéo dài suốt mười mấy năm – chỉ để có cớ giữ lại những điều tốt đẹp nhất cho em gái.

Cái cảm giác lo lắng đó như bóp nghẹt tim tôi.

Tiểu Vân thấy tôi chần chừ, liền rửa một quả dâu sạch sẽ, đưa tới trước miệng tôi:

“Nếm thử đi, không sao đâu. Có tao ở đây.”

Tôi nhìn quả dâu đỏ rực ấy rất lâu, cuối cùng vẫn mở miệng, cắn một miếng.

Vị chua ngọt tức khắc nổ tung nơi đầu lưỡi, thịt quả mềm mại, mang theo cả hương nắng.

Đó là lần đầu tiên trong suốt mười mấy năm… tôi biết dâu tây có vị gì.

Tôi ăn hết quả này đến quả khác, Tiểu Vân ngồi bên cạnh, thỉnh thoảng lại sờ trán tôi, hỏi có thấy khó chịu không.

Một hộp dâu nhanh chóng sạch bách. Tôi ôm cái bụng căng tròn, ngồi phịch xuống sofa, chờ cái gọi là “phản ứng dị ứng” xuất hiện.

10 phút… 20 phút… nửa tiếng…

Một tiếng trôi qua.

Tôi không nổi mẩn, không hắt hơi, không có bất kỳ biểu hiện bất thường nào.

Cuối cùng tôi không nhịn được nữa, nhào vào vai Tiểu Vân òa khóc nức nở.

 

10

Tiểu Vân rút một tờ khăn giấy, nhẹ nhàng lau nước dâu còn dính bên cằm tôi, giọng trầm xuống:

“Thật ra tao đã nghi mẹ mày từ lâu rồi.”

Tôi sững người, đôi mắt sưng đỏ nhìn cô ấy.

“Còn nhớ hồi nhỏ tao hay qua nhà mày chơi không?” Tiểu Vân ngồi xếp bằng lên sofa, tay vô thức vuốt mép ghế, “Có lần sinh nhật mày, mẹ mày mua bánh kem, nói rõ là phần to nhất dành cho mày. Kết quả thì sao? Bà quay lưng liền lén móc miếng chóp có dâu cho em mày. Mày lúc đó chỉ cầm cái viền bánh không kem, còn ngốc nghếch nói với tao: ‘Em tao nhỏ, nhường cho nó là phải.’”

“Còn một lần nữa, tụi mình đi học về ghé nhà mày làm bài tập, mẹ mày mang ra một đĩa cherry rửa sẵn, bảo hai chị em chia nhau ăn. Trước mặt tụi mình, bà nhét cho mày hai quả, rồi quay lưng bốc cả nắm dúi vào túi áo em mày, còn dặn: ‘Ăn lén thôi, đừng để chị con thấy.’”

Tiểu Vân thở dài, giọng chậm lại:

“Hồi đó tao thấy kỳ lắm, nhưng mày cứ nói mẹ mày đối xử công bằng, nói em mày yếu ớt cần được cưng chiều. Tao còn nhỏ, cũng nghĩ chắc tao suy nghĩ nhiều, nên không nói gì.”

Cô ấy vỗ vai tôi, giọng mang theo chút nhẹ nhõm:

“Nhưng bây giờ nhận ra cũng chưa muộn. Mày biết không, rất nhiều người đến tầm hai lăm ba mươi tuổi mới bắt đầu nhìn rõ sự thiên vị trong gia đình, mới hiểu được đằng sau cái gọi là ‘vì tốt cho con’  là bao nhiêu bất công bị giấu nhẹm.”

Cô nhìn tôi, ánh mắt sáng rực:

“Ít ra giờ mày đã độc lập tài chính, có thể tự nuôi sống bản thân, có thể mua chiếc áo gần năm chục ngàn cho chính mình, có thể mua hai hộp dâu tây và ăn đến no nê.

Mày không cần phụ thuộc vào tiền sinh hoạt của họ nữa, không còn bị ép phải nghe lời, không còn bị cái mác ‘chị gái hiểu chuyện’ trói buộc, cũng không còn bị thao túng tinh thần nữa.”

“Nghĩ thử xem – nếu giờ mày vẫn chưa có việc làm, vẫn phải chìa tay xin tiền họ, mày có dám cãi không? Có dám vạch trần mọi chuyện không?”

Tôi ngây người nhìn cô, nước mắt lại trào ra – nhưng lần này, không còn vì buồn nữa.

Phải rồi, tôi giờ đã có chỗ đứng.

Tôi có thể dứt khoát đập cửa bỏ đi.

Tôi có thể kéo số liên lạc vào danh sách chặn.

Tôi có thể hủy khoản tiền sinh hoạt gửi mỗi tháng.

Tôi có thể mua mọi thứ mình từng không dám nghĩ đến – chỉ để nuông chiều chính mình.

 

11

Tiểu Vân bảo dạo này tôi toát ra một kiểu “thoải mái từ trong cốt tủy” – cũng đúng thôi. Không còn phải canh tới ngày chuyển tiền về nhà, không còn phải nghe những lời đạo đức giả ràng buộc, thậm chí đi làm cũng thấy nhẹ lòng hơn nhiều.

Cho đến chiều hôm đó, khi tôi đang họp, điện thoại rung liên tục. Tan họp mở ra xem, là tin nhắn từ người thân ở quê:

Mẹ tôi nhập viện rồi. Suy thận cấp tính. Cần ghép gấp. Bảo tôi mau về xét nghiệm ghép thận.

Tôi nhìn chằm chằm vào những dòng chữ trên màn hình, trong lòng không gợn sóng – thậm chí thấy buồn cười, đến mức nực cười.

Nhưng tôi vẫn về.

Không phải vì mềm lòng.

Chỉ là mạng người quan trọng, dù có oán có hận, cũng không thể trơ mắt nhìn chết.

Trong phòng bệnh, mẹ tôi nằm trên giường, da vàng bệch, không còn chút thần sắc.

Bố tôi ngồi cạnh, thấy tôi vào, mắt lập tức đỏ hoe, vừa mở miệng đã là câu quen thuộc:

“Con à… mẹ con sắp không qua nổi rồi, con nhất định phải cứu bà ấy.”

Em gái đứng bên, mắt sưng đỏ, nhìn tôi như muốn nói gì nhưng lại im lặng.

Y tá nhanh chóng tới lấy máu, làm xét nghiệm ghép tạng.

Trong mấy ngày chờ kết quả, mẹ tôi luôn nhìn tôi với ánh mắt oán trách khó hiểu.

Bà chẳng buồn nói với tôi câu nào, đến cả ánh mắt cũng keo kiệt.

Ngược lại, bà luôn ân cần dặn dò em gái đang ngồi bên giường, sợ nó mệt, sợ nó lạnh, sợ nó đói.

Họ hàng tới khuyên tôi:

“Mẹ sinh nuôi con từng ấy năm không dễ dàng, dù trước kia có chút thiên vị thì giờ cũng nên bỏ qua hết đi.”

Tôi không phản bác gì cả, chỉ ngồi lặng lẽ ngoài hành lang bệnh viện, nhìn những người qua lại tất bật.

“Tôi không cần thận của nó! Ai cần thận của nó chứ? Cho dù có chết, tôi cũng không cần lòng tốt giả tạo của nó!”

Cả phòng bệnh chợt im phăng phắc.

Mọi người sững sờ.

Bố tôi vội vàng kéo tay bà:

“Bà nói linh tinh gì thế! Đây là chuyện cứu mạng!”

“Không quan tâm! Dù có chết, tôi cũng không cần đồ của nó! Nó tới đây chỉ để xem tôi thê thảm cỡ nào thôi, trong lòng chắc đang sung sướng lắm!”

Tôi đứng tại chỗ, nhìn dáng vẻ điên cuồng của bà, bỗng dưng hiểu ra.

Bà không thật sự không cần thận tôi.

Bà chỉ đang đợi tôi cúi đầu.

Chờ tôi khóc lóc van xin, chờ tôi nói mình sai, nói không nên cãi lại bà, nói sẽ giống như trước kia – đưa hết lương tháng, cung phụng bà và em gái chu đáo.

Cả đời bà, phải là người thắng.

Phải được tôi nâng niu, thuận theo, và coi sự thiên vị của bà là chuyện đương nhiên.

Tôi khẽ nhếch môi, cười nhạt.

Từng ấy năm rồi, bà vẫn là con người như thế.

Tôi bước tới hai bước, đứng bên giường bệnh, cúi nhìn bà từ trên cao.

Tôi không khóc, không gào, chỉ bình thản nói một câu – chẳng đầu chẳng đuôi:

“Mẹ à, con không bị dị ứng với dâu tây.”

Giọng bà lập tức nghẹn lại, như bị ai bóp chặt cổ.

Sắc mặt bà trắng bệch.

Bà ngơ ngác nhìn tôi, ánh mắt đầy sững sờ, như thể lần đầu tiên gặp tôi.

Ngày có kết quả ghép tạng, bác sĩ cầm bảng xét nghiệm bước vào, giọng nhẹ nhõm nhưng vẫn hơi ngạc nhiên:

“May mắn thay, mẹ con ghép tạng thành công – là con gái út Trương Tử Di, chỉ số rất phù hợp.”

Cả phòng bệnh chết lặng.

Mắt mẹ tôi trợn to, như nghe thấy điều gì không thể tin nổi.

Bà nhìn chằm chằm em gái, môi run lên:

“Là con? Sao lại là con?”

Trong đầu bà, có lẽ chưa bao giờ nghĩ rằng – đứa con gái được bà cưng chiều nâng niu cả đời lại là người duy nhất có thể cứu bà.

Còn tôi – vì là chị, vì “cứng cáp hơn”, nên mọi hy sinh đều là nghĩa vụ.

Em tôi tái mặt, lùi lại nửa bước, nắm chặt tay mẹ, giọng run rẩy:

“Mẹ… con không làm được… con còn trẻ… con không thể lấy mạng mình ra đánh cược…”

Mẹ tôi đơ người.

Bà nhìn em tôi, đôi mắt không thể tin nổi.

Tất cả yêu chiều, thiên vị ngày thường… trong phút chốc như bị rút sạch, chỉ còn lại trống rỗng và ngỡ ngàng.

Chương trước Chương tiếp
Loading...